Mạng xã hội

Trang chủ » Sản phẩm » Sách giới thiệu » Bảng Thủy Triều 2016

Bảng Thủy Triều 2016

 

Bảng Thủy Triều 2016

Tác giả: Trung Tâm Hải Văn
Nhà xuất bản: Khoa Học Tự Nhiên và CN
Nhà phát hành: Trung Tâm Hải Văn

 

Giá bán: 100,000 đ
Đặt hàng qua điện thoại
064.353 3399
Giới thiệu về nội dung

Bảng Thủy Triều 2016 Tập II - TIDE TABLES VOL II

+ ĐÀ NẴNG

+ QUY NHƠN

+ NHA TRANG

+ VŨNG TÀU

+ SÀI GÒN

+ ĐỊNH AN

+ HÀ TIÊN

+ TRƯỜNG SA

 

Xem chi tiết
  • Giới thiệu sản phẩm
  • Thông tin chi tiết

Bảng Thủy Triều 2016 Tập II - TIDE TABLES VOL II

+ ĐÀ NẴNG

+ QUY NHƠN

+ NHA TRANG

+ VŨNG TÀU

+ SÀI GÒN

+ ĐỊNH AN

+ HÀ TIÊN

+ TRƯỜNG SA

 

Thông tin chi tiết

 

 

Các thuật ngữ và ký hiệu

1.      Thuỷ triều. Đó là hiện tượng dao động mực nước sông biển phát sinh bởi sự biến thiên tuần hoàn của lực hấp dẫn mặt trăng và mặt trời lên mỗi vị trí trên bề mặt quả đất (do quả đất quay quanh trục của nó và tất cả chúng đều chuyển động liên tục trong vũ trụ theo các quỹ đạo khác nhau).

2.      Sóng triều. Thủy triều lan truyền trong thủy quyển dưới dạng sóng dài, chu kỳ nhiều giờ, bước sóng hàng ngàn km và biên độ bé (so với bước sóng) và được gọi là sóng triều. Tính chất các sóng triều thành phần phụ thuộc vào độ lớn và chu kỳ biến thiên lực hấp dẫn giửa mặt đất với mặt trăng và mặt trời. Các sóng triều cơ bản là: sóng bán nhật triều mặt trăng chính (ký hiệu M2, chu kỳ 12 giờ 25 phút); sóng nhật triều mặt trăng chính (ký hiệu O1, chu kỳ 25 giờ 47 phút), sóng bán nhật triều chính (ký hiệu S2, chu kỳ 12 giờ), sóng nhật triều mặt trời chính (ký hiệu P1, chu kỳ 24 giờ 4 phút) và sóng lệch nhật triều chính (ký hiệu K1, chu kỳ 23 giờ 56 phút). Có khoảng 396 sóng triều thành phần có ý nghĩa.

3.      Sóng triều tại vùng biển ven bờ và cửa sông. Tính chất thủy triều tại vùng biển ven bờ và cửa sông rất phức tạp vì mực nước triều ở đây được hình thành bởi tổ hợp các sóng dài dạng sóng tiến và sóng đứng bị biến dạng mạnh do sự phản xạ, khúc xạ, tác động của lực Corriolis, lực ma sát, cấu trúc đáy, đường bờ biển và sông rạch.

Mực nước triều là cao trình mặt nước dao động theo thời gian so với mốc cao độ quy ước. Mực nước triều đo bằng đơn vị độ dài mét (m) hoặc xen ti mét (cm). Mỗi trị số mực nước triều ứng với một thời điểm xuất hiện gọi là giờ xuất hiên (GXH) tính bằng giờ và phút. Trong bảng dự tính thuỷ triều này, mực nước triều dự tính đo bằng cm và mốc cao độ quy ước là mốc Quốc gia. Đường cong biểu thị diễn biến mực nước triều theo thời gian gọi là đường quá trình mực nước triều.

4.      Chu kỳ triều. Chu kỳ triều phụ thuộc vào cơ chế tổ hợp các sóng triều thành phần. Thông thường, khoảng thời gian giữa hai lần chân triều trong một ngày gọi là chu kỳ triều.

5.      Nước lớn (đỉnh triều) Vị trí cao nhất của mực nước trong một chu kỳ triều.

6.      Nước ròng (chân triều): Vị trí thấp nhất của mực nước trong trong một chu kỳ triều.

7.      Nếu trong một ngày có hai lần nước lớn, hai lần nước ròng thì phân biệt nước lớn cao (NLC), nước lớn thấp (NLT) và nước ròng cao (NRC), nước ròng thấp (NRT).

8.      Thời gian triều dâng là khoảng thời gian từ lúc nước ròng đến lúc nước lớn kế tiếp.

9.      Thời gian triều rút là khoảng thời gian từ lúc nước lớn đến lúc nước ròng kế tiếp.

10. Độ lớn triều là hiệu mực nước nước lớn cao và mực nước nước ròng thấp trong ngày.

Bình luận facebook
Sách nên mua kèm